Cập nhật văn bản pháp luật kì 3 – tháng 4/2010

CẬP NHẬT VĂN BẢN PHÁP LUẬT KÌ 3 – THÁNG 4/2010

  1. Thông tư số 24/2010/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ngày 08 – 4 – 2010 về việc ban hành danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng, hạn chế sử dụng  và cấm sử dụng ở Việt Nam.
  2. Nghị định số 43/2010/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15 – 4 – 2010 về đăng ký doanh nghiệp.

=======================================

TÓM TẮT NỘI DUNG

Thông tư số 24/2010/TT-BNNPTNT  (Thông tư 24) của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ngày 08 – 4 – 2010 về việc ban hành danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng, hạn chế sử dụng  và cấm sử dụng ở Việt Nam. Xem văn bản tại đây.

Thông tư 24 có hiệu lực thi hành ngày 24 – 5 – 2010 (sau 45 ngày kể từ ngày ký) đồng thời thay thế các Thông tư số 09/2009/TT-BNN ngày 03 tháng 3 năm 2009, số 20/2009/TT-BNN ngày 17 tháng 4 năm 2009, số 32/2009/TT-BNNPTNT ngày 8 tháng 6 năm 2009, số 64/2009/TT-BNNPTNT ngày 7 tháng 10 năm 2009 và số 02/2010/TT-BNNPTNT ngày 8 tháng 01 năm 2010 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng ở Việt Nam gồm có:

Thuốc trừ sâu: 437 hoạt chất với 1196 tên thương mại

Thuốc trừ bệnh: 304 hoạt chất với 828 tên thương mại

Thuốc trừ cỏ: 160 hoạt chất với 474 tên thương mại.

Thuốc điều hòa sinh trưởng: 49 hoạt chất với 118 tên thương mại.

Chi tiết được qui định chi tiết trong Phụ lục 1 đính kèm.

Download Phụ lục 1 tại đây.

Danh mục thuốc bảo vệ thực vật hạn chế sử dụng ở Việt Nam bao gồm:

Thuốc trừ sâu: 5 hoạt chất với 10 tên thương mại

Được qui định chi tiết trong Phụ lục 2 đính kèm.

Download Phụ lục 2 tại đây.

Danh mục thuốc bảo vệ thực vật cấm sử dụng ở Việt Nam gồm có:

Thuốc trừ sâu: khoảng 21 hoạt chất

Thuốc trừ bệnh: 06 hoạt chất.

Thuốc trừ cỏ: 01 hoạt chất

Được qui định chi tiết trong Phụ lục 3 đính kèm.

Download Phụ lục 3 tại đây.

====================================

Nghị định số 43/2010/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15 – 4 – 2010 về đăng ký doanh nghiệp. (Nghị định 43).

Xem văn bản tại đây

Nghị định 43 chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01 – 6 – 2010 và thay thế nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29 – 8 – 2006 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh qui định chi tiết về hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký doanh nghiệp.

Đối tượng áp dụng: bao gồm doanh nghiệp hoạt động theo luật doanh nghiệp

Điểm nổi bật của Nghị định 43 là thủ tục đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử được gọi là cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia. Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp nộp qua Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia có giá trị pháp lý như hồ sơ nộp bằng bản giấy.

Nghị định 43 nói rõ nghĩa vụ đăng ký doanh nghiệp của người thành lập doanh nghiệp trong thời hạn mười (10) ngày làm việc, kể từ ngày doanh nghiệp quyết định thay đổi các nội dung đăng ký doanh nghiệp, Doanh nghiệp có trách nhiệm thực hiện việc đăng ký thay đổi nội dung này trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Và Doanh nghiệp có nghĩa vụ nộp báo cáo tài chính cho cơ quan đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật.

Theo Nghị định 43, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và Giấy chứng nhận đăng ký thuế của doanh nghiệp. Những doanh nghiệp đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế trước khi Nghị định này có hiệu lực không bắt buộc phải thực hiện thủ tục đổi sang Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Chỉ khi doanh nghiệp đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp, Doanh nghiệp sẽ được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Trường hợp doanh nghiệp có nhu cầu đổi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế sang Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp nhưng không thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế, doanh nghiệp nộp giấy đề nghị kèm theo bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và bản chính Giấy chứng nhận đăng ký thuế tại cơ quan đăng ký kinh doanh để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

Về mã số doanh nghiệp, Nghị định qui định mỗi doanh nghiệp được cấp một mã số duy nhất gọi là mã số doanh nghiệp. Mã số này đồng thời là mã số đăng ký kinh doanh và mã số thuế của doanh nghiệp. Mã số doanh nghiệp tồn tại suốt quá trình hoạt động, kể từ khi thành lập đến khi chấm dứt hoạt động, mã số doanh nghiệp được dùng để kê khai nộp thuế cho tất cả các loại thuế phải nộp, kể cả trường hợp doanh nghiệp kinh doanh nhiều ngành, nghề khác nhau hoặc hoạt động sản xuất, kinh doanh tại các địa bàn khác nhau. Đối với các chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp thì sẽ được cấp mã số đơn vị trực thuộc.

Vần đề đặt tên doanh nghiệp, Nghị định 43 qui định, kể từ ngày 01/01/2011 không được đặt tên trùng hoặc tên gây nhầm lẫn với tên doanh nghiệp khác đã đăng ký trong phạm vi toàn quốc, trừ những doanh nghiệp đã bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc đã giải thể. Kể từ ngày 01-6-2010, ngày có hiệu lực thi hành Nghị định này, đến ngày 31/12/2010, việc chống trùng, nhầm lẫn tên doanh nghiệp được thực hiện trên phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Các doanh nghiệp đã đăng ký tên doanh nghiệp phù hợp với quy định hiện hành nhưng không phù hợp với quy định về chống trùng, nhầm lẫn tên doanh nghiệp theo Nghị định 43 không bắt buộc phải đăng ký đổi tên mà khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp có tên trùng và tên gây nhầm lẫn tự thương lượng với nhau để đăng ký đổi tên doanh nghiệp hoặc bổ sung tên địa danh để làm yếu tố phân biệt tên doanh nghiệp.

Thời hạn giải quyết hồ sơ đăng ký doanh nghiệp cũng là điểm đáng lưu ý, Nghị định qui định rõ là trong thời hạn năm (05) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Phòng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho doanh nghiệp bao gồm đăng ký thành lập mới doanh nghiệp và đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp. Nếu quá thời hạn trên, mà không nhận được phản hồi từ cơ quan đăng ký kinh doanh về việc chấp thuận hồ sơ hợp lệ hoặc yêu cầu sửa đổi bổ sung hồ sơ thì người thành lập doanh nghiệp có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

Trường hợp đăng ký tăng giảm vốn điều lệ, thay đổi tỉ lệ vốn góp, ngòai những nội dung tương tự như qui định hiện hành, Nghị định 43 qui định vốn điều lệ công ty cổ phần không bao gồm giá trị của số cổ phần được quyền chào bán./.

Advertisements
%d bloggers like this: