Cập nhật VBPL kì 1 tháng 10/2010

CẬP NHẬT MỘT SỐ VBPL KÌ 1 – THÁNG 10/2010

(1) Thông tư 153/2010/TT-BTC ngày 28/9/2010 của Bộ tài chính về việc hướng dẫn thi hành Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ qui định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.

(2) Nghị định số 102/2010/NĐ-CP ngày 01 – 10 – 2010 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp

=========================================

TÓM TẮT NỘI DUNG

(1) Thông tư 153/2010/TT-BTC ngày 28/9/2010 của Bộ tài chính về việc hướng dẫn thi hành Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ qui định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. (Thông tư 153).

Xem Thông tư 153 tại đây.

Thông tư 153 có hiệu lực thi hành ngày kể từ ngày 01 – 01 – 2011, thay thế các Thông tư số:20/2002/TT-BTC ngày 30/12/2002 hướng dẫn thi hành Nghị định số 89/2002/NĐ-CP ngày 07/11/2002 về việc in, phát hành, sử dụng và quản lý hoá đơn, Thông tư số 99/2003/TT-BTC ngày 23/10/2003 về sửa đổi bổ sung Thông tư số 120/2002/TT-BTC, Thông tư số 16/2010/TT-BTC ngày 01/02/2010 về sửa đổi bổ sung Thông tư số 120/2002/TT-BTC.

Các hình thức của hóa đơn:

– Hóa đơn tự in

– Hóa đơn điện tử

– Hóa đơn đặt in

Đối tượng được tạo hóa đơn tự in:

(i) Các doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp được tạo hóa đơn tự in kể từ khi có mã số thuế gồm:

– Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật trong khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất, khu công nghệ cao.

– Các đơn vị sự nghiệp công lập có sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật.

– Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ từ năm (05) tỷ đồng trở lên tính theo số vốn đã thực góp đến thời điểm thông báo phát hành hóa đơn.

(ii) Tổ chức kinh doanh đang hoạt động ngoài các trường hợp trên được tự in hóa đơn để sử dụng cho việc bán hàng hóa, dịch vụ khi đáp ứng các điều kiện:

– Đã được cấp mã số thuế;

– Có doanh thu bán hàng hoá, dịch vụ;

– Có hệ thống thiết bị (máy tính, máy in, máy tính tiền) đảm bảo cho việc in và lập hoá đơn khi bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ;

– Là đơn vị kế toán theo quy định của Luật Kế toán và có phần mềm bán hàng hoá, dịch vụ gắn liền với phần mềm kế toán, đảm bảo dữ liệu của hoá đơn bán hàng hoá, dịch vụ được tự động chuyển vào phần mềm (hoặc cơ sở dữ liệu) kế toán tại thời điểm lập hoá đơn.

– Không bị xử phạt vi phạm pháp luật về thuế hoặc đã bị xử phạt và đã chấp hành xử phạt vi phạm pháp luật về thuế mà tổng số tiền phạt vi phạm pháp luật về thuế dưới hai mươi (20) triệu đồng trong vòng ba trăm sáu mươi lăm (365) ngày tính liên tục từ ngày thông báo phát hành hoá đơn tự in lần đầu trở về trước.

Trước khi tạo hóa đơn, các tổ chức này phải ra quyết định áp dụng hóa dơn tự in gửi cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp và chịu trách nhiệm về quyết định này.

Đối tượng được tạo hóa đơn đặt in:

(i) Tổ chức kinh doanh; hộ và cá nhân kinh doanh có mã số thuế (không bao gồm hộ, cá nhân nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp). Trường hợp tổ chức, hộ và cá nhân kinh doanh đặt in hóa đơn cho các đơn vị trực thuộc thì tên tổ chức kinh doanh phải được in sẵn trên bên trái của tờ hóa đơn. Các đơn vị trực thuộc đóng dấu hoặc ghi tên, mã số thuế, địa chỉ vào tiêu thức “tên, mã số thuế, địa chỉ người bán hàng” để sử dụng.

(ii) Cục Thuế tạo hóa đơn đặt in để bán và cấp cho các đối tượng theo qui định tại Thông tư 153. Tên Cục Thuế được in sẵn phía trên bên trái của tờ hóa đơn.

Cục thuế đặt in hóa đơn để bán cho các đối tượng:

(i)) Tổ chức không phải là doanh nghiệp nhưng có hoạt động kinh doanh; hộ, cá nhân kinh doanh; doanh nghiệp siêu nhỏ; doanh nghiệp ở tại địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn.

Cục thuế đặt in hóa đơn để cấp cho các đối tượng:

Tổ chức không phải là doanh nghiệp, hộ và cá nhân không kinh doanh nhưng có phát sinh hoạt động bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cần có hóa đơn để giao cho khách hàng. Cơ quan thuế cấp hóa đơn này theo đề nghị của người xin cấp hóa đơn, được gọi là hóa đơn lẻ.

Thông báo việc phát hành hóa đơn:

Trước khi sử dụng hoá đơn cho việc bán hàng hoá, dịch vụ, Tổ chức, hộ, cá nhân kinh doanh phải lập Thông báo phát hành hoá đơn gởi đến cơ quan thuế quản lý trực tiếp, chậm nhất là năm (05) ngày trước khi bắt đầu sử dụng hóa đơn, và trong thời hạn mười (10) ngày kể từ ngày ký thông báo phát hành. Trường hợp tổ chức có các đơn vị trực thuộc, chi nhánh có sử dụng chung mẫu hóa đơn của tổ chức thì từng đơn vị trực thuộc, chi nhánh phải gửi Thông báo phát hành cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp.

Để nhận dạng hóa đơn, theo Thông tư 153, tổ chức, hộ, cá nhân khi in, phát hành hóa đơn cần quy ước các ký hiệu nhận dạng trên hóa đơn do mình phát hành. Tổ chức, hộ, cá nhân có thể chọn một hay nhiều hình thức sau để làm ký hiệu nhận dạng như: dán tem chống giả; dùng kỹ thuật in đặc biệt; dùng giấy, mực in đặc biệt; đưa các ký hiệu riêng vào trong từng đợt in hoặc đợt phát hành loại hóa đơn cụ thể, in sẵn các tiêu thức ổn định trên tờ hóa đơn (như tên, mã số thuế, địa chỉ người bán; loại hàng hóa, dịch vụ; đơn giá…), chữ ký và dấu của người bán khi lập hóa đơn…

Theo thông tư 153, sử dụng hóa đơn bất hợp pháp là việc sử dụng hóa đơn trong các trường hợp: hóa đơn giả; hóa đơn chưa có giá trị sử dụng và hóa đơn hết giá trị sử dụng.

Thông tư 153 xác định các trường hợp được xem là sử dụng bất hợp pháp hóa đơn:

(i) Hóa đơn có nội dung được ghi không có thực một phần hoặc toàn bộ.

(ii) Sử dụng hoá đơn của tổ chức, cá nhân khác để bán ra, để hợp thức hoá hàng hoá, dịch vụ mua vào không có chứng từ hoặc hàng hoá, dịch vụ bán ra để gian lận thuế, để bán hàng hoá nhưng không kê khai nộp thuế.

(iii) Sử dụng hoá đơn của tổ chức, cá nhân khác để bán hàng hoá, dịch vụ, nhưng không kê khai nộp thuế, gian lận thuế; để hợp thức hàng hoá, dịch vụ mua vào không có chứng từ.

(iv) Hoá đơn có sự chênh lệch về giá trị hàng hoá, dịch vụ hoặc sai lệch các tiêu thức bắt buộc giữa các liên của hoá đơn.

(v) Sử dụng hoá đơn bán hàng hoá, dịch vụ mà cơ quan thuế, cơ quan công an và các cơ quan chức năng khác đã kết luận là sử dụng bất hợp pháp hóa đơn.

Thông tư này cũng qui định rõ Tổ chức, hộ, cá nhân có nhu cầu sử dụng hoá đơn ngay từ 01/01/2011 được thực hiện tạo hoá đơn tự in, hoá đơn đặt in và thông báo phát hành hoá đơn ngay từ năm 2010 theo hướng dẫn tại Thông tư này.

Tải các Phụ lục đính kèm Thông tư 153 tại đây.

===========================================

(2) Nghị định số 102/2010/NĐ-CP ngày 01 – 10 – 2010 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp. (Nghị định 102).

Xem Nghị định 102 tại đây.

Nghị định 102 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 – 11 – 2010, thay thế Nghị định số 139/2007/NĐ-CP ngày 05 – 9 – 2007 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật doanh nghiệp.

Một số điểm mới theo Nghị định 102 so với Nghị định 139/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 05 – 9 – 2007:

1. Việc góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ:

Nghị định 102 qui định chỉ có cá nhân hoặc tổ chức là chủ sở hữu đối với các quyền sở hữu trí tuệ theo qui định của pháp luật sở hữu trí tuệ mới có quyền sử dụng các tài sản này để góp vốn.

2. Qui định về cổ đông sáng lập:

Khác với qui định hiện hành không qui định số lượng cổ đông sáng lập tối thiểu đối với trường hợp thành lập mới công ty cổ phần, Nghị định 102 qui định công ty cổ phần mới thành lập phải có ít nhất ba (03) cổ đông sáng lập. Các cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% tổng số cổ phần phổ thông được quyền phát hành tại thời điểm đăng ký doanh nghiệp. Cổ đông sáng lập và cổ đông phổ thông tại thời điểm đăng ký doanh  nghiệp phải thanh toán đủ số cổ phần đăng ký mua trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

3. Việc chào bán cổ phần:

Nghị định 102 bổ sung các phương thức chào bán cổ phần như  sau:

(i) Thông qua phương tiện đại chúng, kể cả internet;

(ii) Chào bán cho từ một trăm nhà đầu tư trở lên, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp;

(iii) Chào bán cho một số lượng nhà đầu tư không xác định;

(iv) Chào bán cho dưới một trăm nhà đầu tư đã được xác định.

Sau khi kết thúc đợt chào bán cổ phần, công ty đăng ký lại vốn điều lệ theo qui định của Luật doanh nghiệp và Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15 – 4 – 2010 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp.

4. Việc công khai hóa những người có liên quan và các giao dịch của họ với công ty

Trừ khi Điều lệ công ty có quy định khác, việc công khai hóa những người có liên quan và các giao dịch của họ với công ty được thực hiện như sau:

(i) Công ty phải tập hợp và cập nhật danh sách những người có liên quan của công ty theo quy định của Luật Doanh nghiệp và các giao dịch tương ứng của họ với công ty; Danh sách này phải được lưu giữ tại trụ sở chính của công ty; trường hợp cần thiết có thể lưu giữ một phần hoặc toàn bộ nội dung Danh sách nói trên tại các chi nhánh của công ty;

(ii) Tất cả các cổ đông, những người quản lý, thành viên Ban kiểm soát của công ty và những người đại diện theo ủy quyền của họ có quyền xem, trích lục và sao một phần hoặc toàn bộ nội dung Danh sách nói trên trong giờ làm việc.

Công ty phải tạo điều kiện để những người như cổ đông, người quản lý, Ban kiểm soát và những người đại diện theo ủy quyền của họ tiếp cận, xem, trích lục và sao danh sách những người có liên quan của công ty và những nội dung khác một cách nhanh nhất, thuận lợi nhất. Không ai có quyền ngăn cản, gây khó khăn đối với họ trong thực hiện quyền tiếp cận thông tin theo qui định này.

5. Việc chuyển đổi công ty TNHH thành công ty cổ phần.

Nghị định 102 qui định rõ ràng cụ thể chi tiết hơn so với qui định hiện hành, theo đó, Công ty trách nhiệm hữu hạn có thể chuyển đổi thành công ty cổ phần theo phương thức sau:

(i) Chuyển đổi thành công ty cổ phần mà không huy động thêm người khác cùng góp vốn cổ phần, không bán cổ phần hiện có cho người khác;

(ii) Chuyển đổi thành công ty cổ phần kết hợp với chào bán chứng khoán ra công chúng;

(iii) Chuyển đổi thành công ty cổ phần kết hợp với chào bán cổ phần cho ít hơn 100 nhà đầu tư đã xác định.

Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn chuyển đổi thành công ty cổ phần bằng cách chào bán chứng khoán ra công chúng thì điều kiện chuyển đổi, trình tự, thủ tục và điều kiện chào bán chứng khoán thực hiện theo quy định của pháp luật về chứng khoán.

Công ty chuyển đổi đương nhiên kế thừa toàn bộ các quyền và lợi ích hợp pháp, chịu trách nhiệm về các khoản nợ, gồm cả nợ thuế, hợp đồng lao động và các nghĩa vụ khác của công ty được chuyển đổi./.

Advertisements
%d bloggers like this: