Cập nhật VBPL kì 1 – tháng 11/2010

CẬP NHẬT MỘT SỐ VBPL KÌ 1 – THÁNG 11/2010

  1. Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng khoán ngày 29 – 6 – 2006.
  2. Dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư số 130/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 và hướng dẫn thi hành Nghị định số 124/2008/NĐ-CP ngày 11 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp.

HỎI VÀ ĐÁP

  1. Q.1: Thặng dư vốn cổ phần.
  2. Q.2: Khuyến mại theo Luật Thương Mại
  3. Q.3: Trích khấu hao TSCĐ

=========================================

TÓM TẮT NỘI DUNG

1. Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng khoán.

Xem Dự thảo tại đây.

Một số điểm sửa đổi bổ sung đáng lưu ý theo Dự Thảo:

1. Các hành vi bị cấm

Trong thời gian vừa qua đã có nhiều doanh nghiệp không phải là công ty chứng khoán nhưng vẫn thực hiện các hoạt động môi giới, tư vấn đầu tư chứng khoán dẫn đến tiềm ẩn nhiều rủi ro cho hoạt động của thị trường. Tuy nhiên, việc xử lý vi phạm gặp khó khăn vì chưa có quy định đây là hành vi bị cấm và luật pháp cũng chưa nói rõ chỉ các tổ chức kinh doanh chứng khoán được thực hiện các hoạt động này. Để khắc phục bất cập này, dự thảo bổ sung vào Điều 9 của Luật Chứng khoán quy định cấm thực hiện hoạt động kinh doanh chứng khoán khi chưa được cấp phép.

Theo đó, ngoài 4 hành vi bị cấm theo Điều 9 Luật chứng khoán, Dự thảo bổ sung thêm một hành vi bị cấm là:

“(v) Thực hiện nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán khi chưa được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp phép hoặc chấp thuận.”

2. Về trách nhiệm của Tổ chức phát hành trong việc đưa chứng khoán phát hành vào giao dịch tại thị trường có tổ chức

Hiện nay, chưa có các quy định buộc các công ty đại chúng phải đưa chứng khoán giao dịch vào thị trường có tổ chức, do vậy, các giao dịch chứng khoán được thực hiện ở cả thị trường có tổ chức (đối với những công ty đại chúng đăng ký giao dịch chứng khoán tại hai sở và UPCOM) và cả thị trường tự do (đối với chứng khoán của công ty không đăng ký giao dịch tại thị trường có tổ chức). Các giao dịch trên thị trường tự do dựa trên các thông tin không đầy đủ, không chính thống, thiếu tính minh bạch, không có các cơ sở pháp lý đầy đủ và  không chịu sự quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền dẫn tới có rất nhiều rủi ro như rủi ro trong thanh toán, rủi ro sở hữu v.v… chứa đựng nhiều nguy cơ lừa đảo, đổ vỡ ảnh hưởng đến thị trường có tổ chức; đặc biệt là khi thị trường rơi vào giai đoạn giảm giá.

Để phù hợp với nhu cầu phát triển của thị trường, phù hợp năng lực quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trước mắt chỉ quy định nghĩa vụ cam kết và thực hiện đưa chứng khoán vào giao dịch tại thị trường có tổ chức đối với các công ty đại chúng có quy mô lớn trong thời hạn một năm kể từ khi kết thúc đợt chào bán theo hướng dẫn của  Bộ Tài chính dựa trên mức vốn và tính đại chúng của công ty. Đồng thời bổ sung nghĩa vụ của tổ chức phát hành thực hiện cam kết đưa chứng khoán chào bán vào giao dịch trên thị trường có tổ chức.

Dự thảo bổ sung điểm d vào khoản 1 Điều 12 Luật chứng khoán qui định về điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng:

“d) Công ty đại chúng có quy mô lớn khi đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng phải cam kết đưa chứng khoán vào giao dịch trên thị trường có tổ chức trong thời hạn một năm kể từ ngày kết thúc đợt chào bán được Đại hội đồng cổ đông thông qua.

Bộ Tài chính hướng dẫn công ty đại chúng có quy mô lớn khi đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng phải cam kết đưa chứng khoán vào giao dịch trên thị trường có tổ chức dựa trên mức vốn và tính đại chúng của công ty.”

Bổ sung điểm g vào khoản 1 Điều 14 Luật chứng khoán  qui định về hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng:

g) Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông thông qua phương án chào bán và đưa chứng khoán vào giao dịch trên thị trường giao dịch có tổ chức trong thời hạn một năm kể từ ngày kết thúc đợt chào bán.”

Bổ sung khoản 3 Điều 24 Luật chứng khoán 2006 qui định về nghĩa vụ của tổ chức phát hành:

“3. Tổ chức phát hành là công ty đại chúng có quy mô lớn phải thực hiện cam kết đưa chứng khoán chào bán vào giao dịch trên thị trường giao dịch chứng khoán có tổ chức quy định tại điểm d khoản 1 Điều 12 Luật này.”

3.Về chào mua công khai

Khoản 1 Điều 32 Luật Chứng khoán quy định các trường hợp phải chào mua công khai bao gồm: a) Chào mua cổ phiếu có quyền biểu quyết dẫn đến việc sở hữu từ hai mươi lăm phần trăm trở lên số cổ phiếu đang lưu hành của một công ty đại chúng; b) Chào mua mà đối tượng được chào mua bị bắt buộc phải bán cổ phiếu mà họ sở hữu.

Tuy nhiên, qua thực tế cho thấy, Luật chứng khoán chưa có quy định trường hợp chào mua có khối lượng từ 10% trở lên sau khi đã đạt mức 25% theo như thông lệ quốc tế. Ngoài ra quy định hiện hành còn cứng nhắc, dẫn đến khó thực hiện cho các đối tượng phải chào mua công khai trong trường hợp đã nắm giữ trên 25% nhưng có ý định mua tiếp với tỷ lệ nhỏ (có thể là 0,5%, 1%,…), không gây ảnh hưởng nhiều tới quyết định của công ty và quyền lợi của các cổ đông khác.

Dự thảo bổ sung sửa đổi Điều 32 Luật chứng khoán qui định về chào mua công khai:

1. Các trường hợp phải chào mua công khai:

a) Chào mua cổ phiếu có quyền biểu quyết, chứng chỉ quỹ đóng dẫn đến việc sở hữu từ hai mươi lăm phần trăm trở lên số cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đang lưu hành của công ty đại chúng, quỹ đóng;

b) Tổ chức, cá nhân và người có liên quan đã nắm giữ từ hai mươi lăm  phần trăm trở lên số cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đóng có quyền biểu quyết của một công ty đại chúng, quỹ đóng mà có ý định mua tiếp từ mười phần trăm trở lên số cổ phiếu, chứng chỉ quỹ có quyền biểu quyết đang lưu hành của công ty đại chúng;

c) Tổ chức, cá nhân và người có liên quan đã nắm giữ từ hai mươi lăm  phần trăm trở lên tổng số cổ phiếu có quyền biểu quyết của một công ty đại chúng mua tiếp từ năm đến dưới mười phần trăm cổ phiếu có quyền biểu quyết của công ty đại chúng trong khoảng thời gian dưới một năm kể từ ngày kết thúc đợt chào mua công khai trước đó.

2. Các trường hợp không phải chào mua công khai bao gồm:

a)  Mua cổ phiếu mới, chứng chỉ quỹ mới phát hành dẫn đến việc sở hữu từ hai mươi lăm phần trăm trở lên số cổ phần có quyền biểu quyết của công ty đại chúng, số chứng chỉ của quỹ đầu tư chứng khoán đại chúng theo phương án phân phối đã được đại hội đồng cổ đông công ty đại chúng, Ban đại diện quỹ đầu tư chứng khoán đại chúng thông qua;

b) Nhận chuyển nhượng cổ phần, chứng chỉ quỹ dẫn đến sở hữu từ  hai mươi lăm phần trăm trở lên số cổ phần, chứng chỉ quỹ có quyền biểu quyết của công ty đại chúng, quỹ đại chúng đã được đại hội đồng cổ đông công ty đại chúng hoặc đại hội nhà đầu tư quỹ đầu tư chứng khoán đại chúng chấp thuận;

c) Chuyển nhượng cổ phần giữa các công ty trong cùng tập đoàn, tổng công ty theo mô hình công ty mẹ, công ty con;

d) Các trường hợp cho, tặng, thừa kế cổ phiếu;

đ) Các trường hợp chuyển nhượng vốn theo quyết định của tòa án có thẩm quyền;

e) Các trường hợp khác do Bộ Tài chính quy định.

3. Chính phủ quy định cụ thể việc chào mua công khai cổ phiếu của công ty đại chúng, chứng chỉ quỹ của quỹ đầu tư chứng khoán đại chúng dạng đóng.”

Tuy nhiên, có một số chuyên gia không đồng ý với qui định về các đối tượng không phải công bố thông tin như Dự thảo qui định, cụ thể như quy định việc chuyển nhượng cổ phiếu của các công ty trong một tập đoàn thì không công khai. Hoặc việc cho, tặng cổ phiếu giữa các thành viên trong gia đình mà không công khai, cũng bất hợp lý. Ví dụ: “Thực tế, có đơn vị thuộc FPT có việc chuyển nhượng cổ phần của tổng giám đốc hay chủ tịch hội đồng quản trị cho người trong gia đình là đã gây rúng động TTCK. Những chuyện này không thể không công khai”.

4.Các chỉ tiêu an toàn tài chính:

Điều 74 Luật chứng khoán có quy định về trường hợp cảnh báo trong hoạt động của công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ. Tuy nhiên, các quy định hiện hành về an toàn tài chính chưa đáp ứng hết yêu cầu, chưa đánh giá hết những rủi ro gắn với thực tiễn hoạt động của các tổ chức trung gian thị trường và rủi ro hệ thống luôn tiềm ẩn chưa được phát hiện. Trong giai đoạn vừa qua, các chỉ tiêu giám sát tỏ ra không hiệu quả, mới chỉ khống chế được hệ số đòn bẩy, mà chưa đề cập đến mức độ rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các công ty (rủi ro thị trường, rủi ro tín dụng, rủi ro nghiệp vụ…) và không phù hợp với thực trạng TTCK Việt Nam khi các công ty chứng khoán tập trung vào hoạt động tự doanh và hoạt động tín dụng (qua nghiệp vụ Repo, giao dịch ký quỹ).

Vì vậy, Dự thảo sửa đổi bổ sung Điều 74 Luật chứng khoán như sau:

Điều 74: Công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ phải bảo đảm các chỉ tiêu an toàn tài chính và bị đưa vào diện cảnh báo hoặc áp dụng các biện pháp an toàn, chế tài nếu không bảo đảm các chỉ tiêu an toàn tài chính theo quy định của Bộ Tài chính.”

5. Về công bố thông tin trên TTCK

Luật Chứng khoán (về Công bố thông tin) hiện hành đã đề cập một cách khá toàn diện đến các nghĩa vụ công bố thông tin của các đối tượng tham gia hoạt động trên thị trường chứng khoán.

Tuy nhiên, qua thực tế thực hiện Luật Chứng khoán về Công bố thông tin cho thấy:

Thứ nhất, Luật Chứng khoán (Điều 100) chưa có quy định Trung tâm Lưu ký Chứng khoán, người có liên quan là đối tượng phải công bố thông tin nên cần phải bổ sung vào Luật Chứng khoán.

Thứ hai, việc quy định về nội dung công bố thông tin của tổ chức niêm yết cao hơn, chặt chẽ hơn đối với công ty đại chúng (Điều 103) đã tạo ra sự phân biệt đáng kể về nghĩa vụ công bố thông tin giữa công ty đại chúng niêm yết và công ty đại chúng không niêm yết, dẫn đến việc hạn chế các công ty đại chúng đưa chứng khoán giao dịch tại thị trường niêm yết do “ngại” thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin.

Do vậy, đòi hỏi đối với hoạt động của thị trường chứng khoán trong giai đoạn mới là cần bổ sung thêm đối tượng phải thực hiện công bố thông tin (như Trung tâm Lưu ký Chứng khoán và Người có liên quan); nâng cao quyền và nghĩa vụ công bố thông tin cho công ty đại chúng, không phụ thuộc vào việc công ty có niêm yết hay không và các yêu cầu công bố thông tin khác nhằm bảo vệ lợi ích công chúng đầu tư và tăng cường sự minh bạch của thị trường chứng khoán.

Dự thảo sửa đổi khoản 1 Điều 100 Luật chứng khoán về đối tượng và phương thức công bố thông tin:

“Khoản 1: Tổ chức phát hành, công ty đại chúng, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán, Sở giao dịch chứng khoán, Trung tâm giao dịch chứng khoán, Trung tâm Lưu ký Chứng khoán, người có liên quan có nghĩa vụ công bố thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời.”

Dự thảo bãi bỏ Điều 103 Luật chứng khoán qui định về công bố thông tin của tổ chức niêm yết, sửa đổi Điều 101 Luật chứng khoán về công bố thông tin của công ty đại chúng theo hướng chặt chẽ, chi tiết hơn:

Điều 101. Công bố thông tin của công ty đại chúng

1. Công ty đại chúng phải công bố thông tin định kỳ về một hoặc một số nội dung sau:

a) Báo cáo tài chính năm đã được kiểm toán, báo cáo tài chính 6 tháng đã được soát xét bởi công ty kiểm toán độc lập hoặc tổ chức kiểm toán được chấp thuận, báo cáo tài chính quý;

b) Nghị quyết đại hội đồng cổ đông thường niên.

2. Công ty đại chúng phải công bố thông tin bất thường khi xảy ra một trong các trường hợp sau đây:

a) Tài khoản của công ty tại ngân hàng bị phong toả hoặc tài khoản được phép hoạt động trở lại sau khi bị phong toả;

b) Tạm ngừng kinh doanh; bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy phép thành lập và hoạt động hoặc Giấy phép hoạt động;

c) Thông qua các quyết định của Đại hội đồng cổ đông theo quy định của Luật Doanh nghiệp;

d) Quyết định của Hội đồng quản trị về việc mua lại cổ phiếu của công ty mình hoặc bán lại số cổ phiếu đã mua; về ngày thực hiện quyền mua cổ phần của người sở hữu trái phiếu kèm theo quyền mua cổ phần hoặc ngày thực hiện chuyển đổi trái phiếu chuyển đổi sang cổ phiếu và các quyết định liên quan đến việc chào bán theo quy định tại khoản 2 Điều 108 của Luật Doanh nghiệp; chiến lược, kế hoạch phát triển trung hạn và kế hoạch kinh doanh hàng năm của công ty; thành lập công ty con, công ty liên kết; đóng, mở chi nhánh, văn phòng đại diện; thay đổi tên, địa chỉ trụ sở chính công ty; góp vốn có giá trị từ mười phần trăm trở lên tổng tài sản của công ty vào một tổ chức khác; góp vốn có giá trị từ năm mươi phần trăm trở lên tổng vốn của công ty nhận vốn góp;

đ) Quyết định thay đổi phương pháp kế toán áp dụng; ý kiến ngoại trừ hoặc từ chối đưa ra ý kiến của tổ chức kiểm toán đối với báo cáo tài chính, việc thay đổi công ty kiểm toán;

e) Khi có sự thay đổi thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc hoặc Giám đốc, Phó Giám đốc, Kế toán trưởng; có quyết định khởi tố đối với thành viên Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc hoặc Giám đốc, Phó giám đốc, Kế toán trưởng của công ty; có bản án, quyết định của Toà án liên quan đến hoạt động của công ty; có kết luận của cơ quan thuế về việc công ty vi phạm pháp luật về thuế;

g) Mua, bán tài sản có giá trị lớn hơn mười lăm phần trăm tổng tài sản của công ty tính theo bảng cân đối kế toán được kiểm toán gần nhất;

h) Quyết định vay hoặc phát hành trái phiếu có giá trị từ ba mươi phần trăm vốn chủ sở hữu tại thời điểm báo cáo gần nhất trở lên;

i) Công ty nhận được thông báo của Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp;

k) Bị tổn thất tài sản có giá trị từ mười phần trăm vốn chủ sở hữu trở lên;

l) Có sự kiện ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc tình hình quản trị của tổ chức niêm yết;

m)  Khi xảy ra một trong các sự kiện ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, giá chứng khoán tăng hoặc giảm liên tục trong một thời gian nhất định và sự phát triển bền vững của thị trường chứng khoán theo yêu cầu của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước.

3. Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể về nội dung và thời gian công bố thông tin quy định tại Điều này đối với từng loại hình công ty đại chúng.”

(Tổng hợp và biên soạn theo Diễn đàn các doanh nghiệp Việt Nam).

===========================================

2. Dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư số 130/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 (Thông tư 130) và hướng dẫn thi hành Nghị định số 124/2008/NĐ-CP ngày 11 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp.

Xem Dự thảo tại đây.

Một số điểm sửa đổi bổ sung đáng lưu ý theo Dự thảo:

1. Các khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế

Dự thảo bổ sung điểm 2.1 mục IV phần C Thông tư 130 về các khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế, đối với phần giá trị tổn thất do thiên tai, dịch bệnh và trường hợp bất khả kháng khác không được bồi thường mà theo qui định được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế:

Bổ sung 2.1:

“Doanh nghiệp phải lập hồ sơ, thủ tục đối với tài sản, hàng hoá bị tổn thất như sau:

– Công văn của doanh nghiệp gửi cơ quan thuế trực tiếp quản lý giải trình về tài sản, hàng hoá bị tổn thất do thiên tai, dịch bệnh và trường hợp bất khả kháng không được bồi thường (sau khi đã trừ phần thuộc trách nhiệm bồi thường của tổ chức, cá nhân).

– Biên bản kiểm kê giá trị tài sản, hàng hoá bị tổn thất của Hội đồng xác định giá trị tổn thất do doanh nghiệp lập, có xác nhận của cơ quan Công an cấp xã, phường hoặc Chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp xã, phường.

Biên bản kiểm kê giá trị tài sản, hàng hoá tổn thất phải xác định rõ giá trị tài sản, hàng hoá bị tổn thất, nguyên nhân tổn thất, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân về những tổn thất; chủng loại, số lượng, giá trị hàng hoá có thể thu hồi được kèm theo hồ sơ về tài sản, hàng hoá, hoá đơn, chứng từ mua hàng; bảng kê xuất nhập tồn hàng hoá bị tổn thất có xác nhận do đại diện hợp pháp của doanh nghiệp ký và chịu trách nhiệm trước cơ quan có thẩm quyền.

– Hồ sơ bồi thường thiệt hại được cơ quan bảo hiểm chấp nhận bồi thường (nếu có).

– Hồ sơ quy định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân phải bồi thường (nếu có).”

2. Chi khấu hao tài sản cố định

Theo Thông tư số 130/2008/TT-BTC, chi khấu hao tài sản cố định không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế, Dự thảo bổ sung thêm các trường hợp chi khấu hao tài sản cố định được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế:

”Bổ sung điểm 2.2 mục IV phần C Thông tư 130:

Trường hợp tài sản cố định (TSCĐ) đang dùng cho sản xuất kinh doanh nhưng do nguyên nhân khách quan phải tạm thời dừng với thời gian ngắn (dưới 12 tháng) rồi tiếp tục phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh thì trong khoảng thời gian tạm dừng đó doanh nghiệp được trích khấu hao và khoản chi phí khấu hao TSCĐ trong thời gian tạm dừng SXKD được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế.

– Quyền sử dụng đất lâu dài không được trích khấu hao vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế; quyền sử dụng đất có thời hạn nếu có đầy đủ hoá đơn chứng từ và thực hiện đúng các thủ tục theo quy định của pháp luật, có tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì được trích khấu hao vào chi phí được trừ theo thời hạn được phép sử dụng đất theo quy định.”

3. Các phần trích nộp:

Dự thảo bổ sung điểm 2.11 mục IV phần C Thông tư 130 về các phần trích nộp như sau:

“Phần trích nộp quĩ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, kinh phí công đoàn cho người lao động vượt mức quy định. Phần chi đóng góp hình thành nguồn chi phí quản lý cho cấp trên vượt quá mức quy định của cơ quan quản lý cấp trên, chi đóng góp vào các quỹ của hiệp hội vượt quá  mức quy định của hiệp hội.

Trường hợp doanh nghiệp đã tính phần trích nộp quỹ bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế và nếu có trích quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm thì khoản trích quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm sẽ không được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế.

4. Các khoản được xác định là thu nhập khác của doanh nghiệp

Dự thảo sửa đổi, bổ sung điểm 6 mục V phần C Thông tư 130:

“- Thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ: bằng tổng số tiền thu từ bán ngoại tệ trừ (-) tổng giá mua của số lượng ngoại tệ bán ra.

– Trong năm tính thuế Doanh nghiệp có chênh lệch tỷ giá phát sinh trong kỳ và  chênh lệch tỷ giá do đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ cuối năm tài chính (không bao gồm lãi chênh lệch tỷ giá phát sinh trong quá trình đầu tư xây dựng cơ bản giai đoạn trước hoạt động sản xuất kinh doanh), thì được xác định như sau:

+ Khoản chênh lệch tỷ giá phát sinh trong kỳ liên quan trực tiếp đến doanh thu của hoạt động sản xuất kinh doanh chính của doanh nghiệp được tính vào chi phí hoặc thu nhập của hoạt động sản xuất kinh doanh chính của doanh nghiệp. Khoản chênh lệch tỷ giá phát sinh trong kỳ không liên quan trực tiếp đến doanh thu của hoạt động sản xuất kinh doanh chính của doanh nghiệp được tính vào chi phí hoặc thu nhập khác.

+ Lãi chênh lệch tỷ giá do đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ cuối năm tài chính được bù trừ với khoản lỗ lệch tỷ giá do đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ cuối năm tài chính. Sau khi bù trừ nếu còn lãi chênh lệch tỷ giá thì tính vào thu nhập khác, nếu lỗ chênh lệch tỷ giá thì tính vào chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế.”

5. Xác định thu nhập tính thuế và thuế TNDN từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng chứng khoán

Dự thảo bổ sung điểm 1.1 Phần E Thông tư 130:

“- Trường hợp công ty cổ phần thực hiện phát hành thêm cổ phiếu để huy động vốn từ cổ đông mới thì phần chênh lệch lớn hơn giữa giá phát hành và mệnh giá được hạch toán vào tài khoản thặng dư vốn cổ phần và không tính thuế TNDN đối với khoản thặng dư vốn cổ phần.

– Trường hợp công ty cổ phần thực hiện phát hành thêm cổ phiếu để sáp nhập một bộ phận hoặc toàn bộ công ty cổ phần khác có quan hệ công ty mẹ – công ty con với công ty nhận sáp nhập, có quy đổi cổ phiếu của công ty nhận sáp nhập và cổ phiếu của công ty bị sáp nhập thì phần chênh lệch lớn hơn giữa tổng mệnh giá cổ phiếu cả cổ đông tại các công ty bị sáp nhập và tổng mệnh giá cổ phiếu do công ty nhận sáp nhập phát hành thêm được hạch toán vào tài khoản thặng dư vốn cổ phần của công ty nhận sáp nhập và không tính thuế TNDN đối với khoản thặng dư vốn cổ phần./.”

=====================================

HỎI VÀ ĐÁP

Q1. Công ty cổ phần thương mại và dịch vụ máy xây dựng Komatsu Việt Nam, (Đ/c: Số 14 đường Thụy Khuê, Tp. Hà Nội) xin được hỏi về chính sách thuế đối với thặng dư vốn cổ phần.

A.1: Nơi trả lời: Tổng cục thuế

Sau khi xin ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo Bộ tài chính, Tổng cục thuế có ý kiến như sau:

Điểm 1 Mục A Phần II Thông tư số 19/2003/TT-BTC ngày 23/3/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn điều chỉnh tăng, giảm vốn điều lệ và quản lý cổ phiếu quỹ trong công ty cổ phần quy định: Vốn điều lệ của công ty cổ phần được điều chỉnh tăng trong các trường hợp sau đây:

“c. Phát hành cổ phiếu mới để huy động thêm vốn theo quy định của pháp luật, kể cả trường hợp cơ cấu lại nợ của doanh nghiệp theo hình thức chuyển nợ thành vốn góp cổ phần theo thỏa thuận giữa doanh nghiệp và các chủ nợ.”

Tại Điểm 3 Phần I Thông tư số 19/2003/TT-BTC ngày 23/3/2003 của Bộ Tài chính quy định:

“Các hoạt động mua, bán cổ phiếu quỹ, phát hành cổ phiếu mới để huy động vốn đều không phải là hoạt động kinh doanh tài chính của công ty cổ phần. Các khoản chênh lệch tăng do mua, bán cổ phiếu quỹ, chênh lệch do giá phát hành thêm cổ phiếu mới lớn hơn so với mệnh giá phải được hạch toán tài khoản thặng dư vốn, không hạch toán vào thu nhập tài chính của doanh nghiệp. Không tính thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng đối với các khoản thặng dư này.”

Căn cứ các quy định trên, trường hợp Công ty cổ phần thương mại và dịch vụ máy xây dựng Komatsu Việt Nam thực hiện phát hiện phát hành thêm cổ phiếu để huy động vốn từ cổ đông mới thì phần chênh lệch lớn hơn giữa giá phát hành và mệnh giá được hạch toán vào tài khoản thặng dư vốn cổ phần.

Không tính thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng đối với thặng dư vốn cổ phần.

===================================

Q.2. Về phần khuyến mại theo Luật Thương Mại, Công ty Tân Đạt Dương chúng tôi – có trụ sở đăng ký hoạt động tại Q.12 Tp. HCM. Công ty chúng tôi chuyên sản xuất và kinh doanh mặt hàng sơn và bột trét tường. Công ty chúng tôi có hệ thống đại lý trong toàn quốc. Các đại lý này trực tiếp ký hợp đồng mua bán với công ty chúng tôi và họ sẽ trực tiếp phân phối các sản phẩm của công ty chúng tôi đến người tiêu dùng. Với mục tiêu thúc đẩy bán hàng, công ty chúng tôi có thực hiện các chương trình khuyến mãi cho khách hàng là các đại lý. Xin được nêu rõ là chúng tôi chỉ làm chương trình khuyến mãi cho đại lý (nghĩa là người thụ hưởng lợi ích khuyến mãi là đại lý với mục đích muốn đại lý của chúng tôi nhập hàng của công ty chúng tôi nhiều hơn). Công ty chúng tôi không làm chương trình trực tiếp đến người tiêu dùng. Tất cả các giao dịch mua bán của chúng tôi chỉ xảy ra tại văn phòng và kho của chúng tôi tại Quận 12, Tp.HCM. Các khách hàng của chúng tôi trực tiếp đến kho của chúng tôi mua hàng.

Theo qui định của Luật Thương Mại – Phần khuyến mại, khi thực hiện chương trình khuyến mại, Công ty phải gởi thông báo thực hiện khuyến mại về sở công thương – nơi tổ chức chương trình khuyến mại để đăng ký thực hiện. Như vậy, Công ty chúng tôi chỉ phải đăng ký chương trình khuyến mại với Sở công thương Tp.HCM thôi hay phải đăng ký với tất cả các sở công thương của các tỉnh khác nơi khách hàng là đại lý của chúng tôi đang làm ăn mua bán?

A.2: Nơi trả lời: Bộ Công thương – CQ Đại diện tại TP.Hồ Chí Minh

Về câu hỏi của quý doanh nghiệp liên quan đến hoạt động khuyến mại, được quy định tại Nghị định số 37/2006/NĐ-CP ngày 04/4/2006 (gọi tắt là Nghị định 37) của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại và Thông tư Liên tịch số 07/2007/TTLT-BTM-BTC ngày 06/7/2007 (gọi tắt là Thông tư 07) của Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương) và Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thực hiện một số điều về khuyến mại và hội chợ, triển lãm thương mại quy định tại Nghị định số 37 của Chính phủ.

Do câu hỏi của doanh nghiệp không nêu cụ thể hình thức khuyến mại, nên Cơ quan Đại diện của Bộ Công Thương xin trích dẫn một số nội dung quy định chung về hoạt động khuyến mại:

Mục 1, phần II của Thông tư 07 nêu rõ các hình thức khuyến mại phải được thông báo bằng văn bản đến Sở Công Thương nơi tổ chức khuyến mại, bao gồm:

a)     Đưa hàng hoá mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu để khách hàng dùng thử không phải trả tiền;

b)     Tặng hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho khách hàng không thu tiền kèm theo hoặc không kèm theo việc mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ;

c)      Bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán hàng, giá cung ứng dịch vụ trước đó;

d)     Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ;

e)     Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm phiếu dự thi cho khách hàng để chọn người trao thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công bố;

f)       Tổ chức chương trình khách hàng thường xuyên;

g)     Tổ chức cho khách hàng tham gia các chương trình văn hóa, nghệ thuật, giải trí và các sự kiện khác vì mục đích khuyến mại.

Chậm nhất 07 (bảy) ngày làm việc trước khi thực hiện khuyến mại, thương nhân thực hiện các hình thức khuyến mại nêu trên phải gửi thông báo bằng văn bản đến Sở Công Thương nơi tổ chức khuyến mại (Trường hợp của quý doanh nghiệp nếu chỉ tổ chức khuyến mại trên địa bàn TP.HCM thì quý doanh nghiệp chỉ cần gửi thông báo bằng văn bản đến Sở Công Thương TP.HCM).

================================

Q.3: Về trích khấu hao TSCĐ, Tài sản cố định là máy hàn: hàn các mối cáp cho ngành thông tin, thì TSCĐ này khấu hao trong 3 năm. Nhưng trong quá trình làm việc, chúng tôi đã sử dụng máy này quá công suất của máy thì chúng tôi có thể cho khấu hao máy này giảm xuống còn 2 năm được không?

A.3: Nơi trả lời: Bộ tài chính

– Căn cứ điểm 2.2 mục IV phần C Thông tư số 130/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài Chính hướng dẫn về Thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN);

Trường hợp Công ty, trong thời gian hoạt động sản xuất, kinh doanh Công ty có nhu cầu thay đổi mức trích khấu hao nhưng vẫn nằm trong mức quy định thì Công ty được điều chỉnh lại mức trích khấu hao nhưng thời hạn cuối cùng của việc điều chỉnh là thời hạn nộp tờ khai quyết toán thuế TNDN của năm trích khấu hao./.

Advertisements
%d bloggers like this: