Cập nhật VBPL kì 2 – tháng 7/2010

CẬP NHẬT VBPL KÌ 2 – THÁNG 7/2010

  1. Quyết định 992/QĐ-TTg ngày 30 – 6 – 2010 về việc chuyển Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu.
  2. Luật Trọng tài thương mại 2010, số 54/2010/QH12, đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2010.
  3. Tại sao các doanh nghiệp Việt Nam không “mặn mà” với việc giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại bằng Trọng tài.
  4. Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp 2010, số 48/2010/QH12, đã được Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 17 – 6 – 2010.

========================================

NỘI DUNG TÓM TẮT VÀ BÀI VIẾT

(1) Quyết định 992/QĐ-TTg ngày 30 – 6 – 2010 về việc chuyển Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu.

1. Tên công ty: TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ VÀ KINH DOANH VỐN NHÀ NƯỚC

Loại hình doanh nghiệp: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

Tên giao dịch: STATE CAPITAL INVESTMENT CORPORATION

Tên viết tắt: SCIC

2. Ngành nghề kinh doanh

(*) Ngành, nghề kinh doanh chính:

  • Đầu tư và quản lý vốn đầu tư vào các lĩnh vực theo nhiệm vụ do Thủ tướng Chính phủ giao;
  • Tiếp nhận và thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp theo quy định của Thủ tướng Chính phủ;
  • Quản lý, sử dụng Quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp theo quy định của Thủ tướng Chính phủ;
  • Thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đầu tư kinh doanh vốn;

(*) Ngành nghề có liên quan đến ngành nghề kinh doanh chính:

  • Tổ chức huy động các nguồn vốn trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật;
  • Đầu tư và kinh doanh vốn vào các ngành, lĩnh vực đem lại hiệu quả kinh tế cao;
  • Cung cấp các dịch vụ tư vấn: đầu tư, tài chính, chuyển đổi doanh nghiệp, quản trị doanh nghiệp, mua, bán, sáp nhập doanh nghiệp và các dịch vụ hỗ trợ khác theo quy định của pháp luật;
  • Các ngành, nghề khác theo quy định của pháp luật và quy định của Thủ tướng Chính phủ;

3. Vốn điều lệ: 19.000.000.000.000 đồng (mười chín nghìn tỷ đồng)

4. Tên chủ sở hữu: Nhà nước.

Tải Quyết định số 992/QĐ/TTg tại đây

==========================================

(2) Luật Trọng tài thương mại 2010, số 54/2010/QH12, đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2010. (Luật TTTM)

Xem văn bản tại đây.

Tại Kỳ họp thứ 7 diễn ra đầu năm 2010, Quốc hội Khóa XII đã xem xét, thông qua Luật trọng tài thương mại. Đây là Luật có ý nghĩa rất lớn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay của nước ta.

Tóm tắt Luật TTTM:

Thứ nhất, về mối quan hệ giữa tòa án và trọng tài hay còn gọi là vai trò hỗ trợ và giám sát của tòa án đối với trọng tài trong quá trình giải quyết vụ tranh chấp.

Luật TTTM đã đưa ra một loạt các quy định mới nhằm xác định mối quan hệ pháp lý quan trọng này, theo đó trọng tài sẽ nhận được sự hỗ trợ kịp thời của tòa án nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc trọng tài độc lập với tòa án trong việc giải quyết tranh chấp.

Trong nội dung về phân định thẩm quyền của trọng tài và tòa án, Luật TTTM quy định trong trường hợp tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài, nếu một bên khởi kiện tại toà án thì toà án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài được Toà án xác định là vô hiệu hoặc thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được. Tiếp theo, Luật TTTM đã liệt kê các trường hợp tòa án hỗ trợ Trọng tài bao gồm: tuyên thoả thuận trọng tài vô hiệu; xác định thẩm quyền của Hội đồng trọng tài; chỉ định, thay đổi trọng tài viên; hỗ trợ thu thập chứng cứ, lưu giữ chứng cứ; bảo đảm sự có mặt của người làm chứng; áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; giải quyết yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài; đăng ký phán quyết trọng tài.

Các quy định này hoàn toàn phù hợp với pháp luật và thực tiễn trọng tài thương mại quốc tế, đảm bảo quá trình trọng tài được diễn ra thuận lợi, không bị trì hoãn. Đây chính là điều kiện thuận lợi để trọng tài hoạt động có hiệu quả.

Thứ hai, Luật TTTM mở rộng phạm vi thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài

Theo đó, mọi tranh chấp liên quan đến quyền và lợi ích của các bên như:

(i) Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại.

(ii) Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại.

(iii) Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài.

Như vậy, phạm vi giải quyết tranh chấp của trọng tài không chỉ giới hạn là các tranh chấp liên quan đến lĩnh vực thương mại theo quy định của Pháp lệnh TTTM 2003. Bên cạnh đó, yếu tố chủ thể cũng được mở rộng, theo đó “các bên” không phân biệt tổ chức hay cá nhân đều có thể lựa chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp. Điều này đã khắc phục được bất cập của Pháp lệnh TTTM 2003, vốn chỉ cho phép trọng tài được giải quyết tranh chấp trong đó chủ thể phải là “tổ chức, cá nhân kinh doanh”. Với quy định trên, chắc chắn rằng sau khi Luật ra đời, số vụ tranh chấp đưa ra trọng tài sẽ tăng.

Thứ ba, tiêu chuẩn trọng tài viên

Trên thực tế, pháp luật trọng tài của hầu hết các nước không đưa ra tiêu chuẩn của Trọng tài viên mà tôn trọng quyền tự quyết của các bên tranh chấp, trong đó có quyền lựa chọn cho mình trọng tài viên phù hợp nhất để giải quyết tranh chấp, dựa trên niềm tin của họ vào tính chuyên nghiệp, kiến thức chuyên môn, uy tín của cá nhân đó. Tuy nhiên, trong điều kiện của Việt Nam, mức độ sàng lọc và khả năng tiếp cận đối với trọng tài còn hạn chế, Luật TTTM qui định trên cơ sở kế thừa Pháp lệnh TTTM 2003 và xuất phát từ tình hình thực tế tại Việt Nam. Theo đó, cá nhân có năng lực hành vi dân sự, có trình độ đại học và đã qua thực tế công tác từ năm năm trở lên có thể là Trọng tài viên. Ngoài ra, Luật TTTM cho phép các Trung tâm trọng tài được đưa ra các tiêu chuẩn cao hơn khi kết nạp vào danh sách trọng tài viên của Trung tâm mình. Đồng thời, nhằm khuyến khích hoạt động của các Trọng tài viên, tạo điều kiện cho các Trọng tài viên nâng cao trình độ nghiệp vụ trọng tài, bảo vệ các quyền và thực hiện tốt nghĩa vụ, Luật TTTM quy định việc thành lập Hiệp hội Trọng tài mà thành viên có thể là các Trọng tài viên hoặc các Trung tâm trọng tài.

Thứ tư, quốc tịch trọng tài viên

Khắc phục những hạn chế của Pháp lệnh TTTM 2003, Luật TTTM không yêu cầu Trọng tài viên phải có quốc tịch Việt Nam. Điều đó có nghĩa là người nước ngoài cũng có thể được chỉ định làm trọng tài viên ở Việt Nam nếu các bên tranh chấp hoặc tổ chức trọng tài tín nhiệm họ. Quy định này đáp ứng nhu cầu thực tế trong giai đoạn Việt Nam tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế.

Thứ năm, Luật TTTM đã nâng vị thế của Trọng tài một cách đáng kể thông qua việc cho phép Hội đồng trọng tài được quyền ra quyết định áp dụng một số biện pháp khẩn cấp tạm thời

Điều này sẽ giúp cho tố tụng trọng tài vận hành có hiệu quả hơn, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp. Mô hình trao thẩm quyền cho Hội đồng trọng tài được áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đang rất phổ biến trong trọng tài thương mại quốc tế.

Thứ sáu, về trọng tài quy chế

So với Pháp lệnh TTTM 2003, Luật TTTM bổ sung một số nội dung quan trọng, như đưa ra định nghĩa pháp lý về Trọng tài quy chế. Đặc biệt, để khuyến khích hoạt động trọng tài, Luật TTTM quy định tổ chức trọng tài được miễn thuế đối với các khoản thu từ hoạt động phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của mình. Điều này giúp cho trọng tài có điều kiện tích lũy để phát triển. Ngoài ra, Luật TTTM cho phép các tổ chức trọng tài nước ngoài được mở chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Thứ bảy, quy định chặt chẽ hơn về điều kiện và căn cứ hủy phán quyết trọng tài

Cụ thể, một bên muốn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài phải có đủ căn cứ để chứng minh được rằng Hội đồng trọng tài đã ra phán quyết thuộc một trong những trường hợp được quy định cụ thể trong Luật TTTM. Với quy định này, chắc chắn số lượng phán quyết trọng tài bị yêu cầu hủy sẽ giảm đi đáng kể. Các bên sẽ phải cân nhắc kỹ xem có đủ căn cứ để yêu cầu hủy phán quyết trọng tài hay không trước khi làm đơn ra tòa án yêu cầu hủy phán quyết trọng tài.

Thứ tám, Điều khoản bảo vệ người tiêu dùng

Đối với các tranh chấp giữa nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng, mặc dù điều khoản trọng tài đã được ghi nhận trong các điều kiện chung về cung cấp hàng hoá, dịch vụ do nhà cung cấp soạn sẵn thỏa thuận trọng tài thì người tiêu dùng vẫn được quyền lựa chọn Trọng tài hoặc Tòa án để giải quyết tranh chấp. Nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ chỉ được quyền khởi kiện tại Trọng tài nếu được người tiêu dùng chấp thuận.

Quy định này dựa trên một thực tế là thông thường người tiêu dùng bị đặt ở một vị thế có nhiều nguy cơ bị lạm dụng bởi các điều kiện và điều khoản trong hợp đồng in sẵn của người bán hàng hoặc người cung cấp dịch vụ, do vậy cần có quy định bảo vệ họ trong các tình huống cần thiết.

Thứ chín, quy định mới về giới hạn trách nhiệm của các trọng tài viên

Theo đó, trọng tài viên chỉ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho các bên đương sự bởi các hành vi cố ý vi phạm các quy định của pháp luật. Quy định này về cơ bản phù hợp với thông lệ và kinh nghiệm lập pháp của nhiều nước mà mục đích là để khuyến khích ý thức tuân thủ pháp luật và tính vô tư, khách quan của các trọng tài viên.

Cuối cùng, trên cơ sở tiếp thu Luật mẫu UNCITRAL cũng như pháp luật trọng tài của các nước, Luật TTM đã xác lập nguyên tắc quan trọng là trong quá trình tố tụng trọng tài, nếu một bên nhận thấy những quy định của Luật hoặc của thoả thuận trọng tài bị vi phạm, chẳng hạn như thỏa thuận trọng tài không có hiệu lực, không có thỏa thuận trọng tài hoặc Hội đồng trọng tài không có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp mà không đưa ra phản đối trong thời hạn quy định thì được coi là mất quyền khiếu nại tại Trọng tài hoặc Toà án. Quy định này nhằm ngăn chặn một cách có hiệu quả các hành vi cơ hội trong tố tụng trọng tài, tránh tình trạng việc giải quyết vụ tranh chấp bị kéo dài, xét xử nhiều lần.

Tóm lại, các quy định của Luật TTTM đang tiếp cận các chuẩn mực của pháp luật và thực tiễn trọng tài thương mại quốc tế hiện đại và có tính đến điều kiện thực tế của Việt Nam. Luật Trọng tài thương mại sẽ là công cụ pháp lý hữu hiệu, thúc đẩy trọng tài phát triển. Cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài nước có thêm niềm tin khi lựa chọn trọng tài Việt Nam để giải quyết tranh chấp.

Biên soạn từ bài viết Những điểm mới của Dự thảo Luật Trọng tài thương mại của THS. LÊ KIM NGUYỆT – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ
Trích dẫn từ: http://www.nclp.org.vn/ban_ve_du_an_luat/du-an-luat-trong-tai-thuong-mai-va-su-tiep-can-cac-chuan-muc-quoc-te

=================================================

(3) Tại sao các doanh nghiệp Việt Nam không “mặn mà” với việc giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại bằng Trọng tài.

Bài viết của THS. LS. PHAN THÔNG ANH – Trọng tài viên – Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam
SOURCE: DIỄN ĐÀN CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM Trích dẫn từ: http://vibonline.com.vn/vi-VN/Forum/TopicDetail.aspx?TopicID=2514

Ở Việt Nam, trọng tài thương mại không phải là hình thức giải quyết tranh chấp mới xuất hiện.Ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX ở nước ta đã có các hình thức trọng tài như Hội đồng Trọng tài Ngoại thương, Hội đồng Trọng tài Hàng hải… Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, mà trong một thời gian dài trọng tài – với tư cách là một phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại trong nền kinh tế vẫn chưa được nhìn nhận, đánh giá đúng vị trí của nó. Giải quyết tranh chấp về hợp đồng thương mại bằng trọng tài hiện đang đặt ra nhiều vấn đề đối với Việt Nam cả về mặt lý luận và thực tiễn.

Về mặt lý luận, giải quyết tranh chấp về hợp đồng thương mại bằng trọng tài đã và đang được giới luật gia Việt Nam, các doanh nghiệp cũng như nhà nước thừa nhận. Biểu hiện là sự ra đời của Pháp lệnh Trọng tài Thương mại năm 2003 đã tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài và hiện nay được Quốc hội đồng ý xây dựng dự thảo nâng lên thành Luật trọng tài thương mại.

Về mặt thực tiễn, các tổ chức trọng tài thương mại đã được thành lập và ngày càng phát triển. Đó là Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) được thành lập năm 1993 trên cơ sở sát nhập Hội đồng Trọng tài Ngoại thương và Hội đồng Trọng tài Hàng hải; ngoài ra còn có sáu (06) tổ chức trọng tài thương mại khác như Trung tâm Trọng tài Thương mại Hà Nội; Trung tâm Trọng tài Viễn Đông; Trung tâm Trọng tài Thương mại Quốc tế Á Châu (TP.Hà Nội), Trung tâm Trọng tài Thương mại TPHCM; Trung tâm Trọng tài Quốc tế Thái Bình Dương (TP.HCM); Trung tâm Trọng tài Thương mại Cần Thơ (TP.Cần Thơ).

Trên thực tiễn những tổ chức trọng tài này chủ yếu giải quyết các tranh chấp về hợp đồng thương mại quốc tế, còn với những tranh chấp về hợp đồng thương mại trong nước thì rất hạn chế, nguyên nhân do đâu xảy ra tình trạng nêu trên, tại sao doanh nghiệp Việt Nam chưa thật sự “mặn mà” với việc đem tranh chấp của mình ra giải quyết tại trọng tài, theo thống kê có đến hơn 95 % tranh chấp hợp đồng thương mại trong nước được đưa ra Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Do pháp luật trọng tài còn bất cập ? hay các tổ chức trọng tài thương mại hoạt động chưa hiệu quả ? hoặc hợp đồng thương mại và tranh chấp phát sinh từ hợp đồng thương mại có nhiều đặc điểm khó đến mức không thể giải quyết tại trọng tài thương mại ? Để trả lời vấn đề trên, theo chúng tôi cần phải có sự nghiên cứu, phân tích một cách toàn diện, cụ thể những nguyên nhân nêu trên và việc tìm hiểu kinh nghiệm từ các nước khác là rất quan trọng làm cơ sở so sánh với luật pháp trong nước để hoàn chỉnh phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại bằng trọng tài.

Sở dĩ có tình trạng nêu trên là do nhiều nguyên nhân khác nhau, có quan điểm cho rằng xuất phát từ pháp luật Trọng tài còn bất cập đối với nguyên nhân này thì chúng tôi không đồng ý bởi vì tuy Pháp lệnh Trọng tài Thương mại và thực tiễn áp dụng các quy định của Pháp lệnh vào quá trình tố tụng trọng tài có nhiều quy định chưa phù hợp, một số quy định còn chồng chéo, thiếu rõ ràng gây ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của Trọng tài như quy định về phạm vi giải quyết tranh chấp bằng trọng tài còn nhiều bất cập; quy định về thỏa thuận trọng tài chưa chặt chẽ, rõ ràng;chưa có sự quy định về vấn đề triệu tập nhân chứng; quy định về thời hiệu và địa điểm xét xử còn chưa hợp lý; … Nhưng nhìn chung, Pháp lệnh Trọng tài thương mại đã đủ mạnh, đủ khắc phục được những điểm bất cập của các văn bản pháp luật trọng tài trước đây, đồng thời đưa ra nhiều chế định mới phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật trọng tài quốc tế. Sở dĩ không phát huy được sức mạnh của pháp lệnh Trọng tài không phải là do luật bất cập mà do sự nhận thức hiểu biết áp dụng pháp luật trọng tài còn khác nhau của các cơ quan tiến hành tố tụng và các Trọng tài viên chưa thể hiện được mình trong quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.

Những nguyên nhân làm cho các doanh nghiệp còn xa lạ, chưa mặn mà với phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại bằng trọng tài, theo chúng tôi cần tiếp cận phân tích đó là những nguyên nhân phát sinh từ phía các doanh nghiệp, từ phía các Trung tâm Trọng tài và cả từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng, thi hành án trong quá trình nhận thức,áp dụng pháp luật trọng tài.

1)-Nguyên nhân từ phía các doanh nghiệp :

1.1-Doanh nghiệp trong nước và nước ngoài có sự nhận thức khác nhau khi lựa chọn giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài.

Trong hợp đồng thương mại hiện nay về điều khoản giải quyết tranh chấp, các doanh nghiệp trong nước thì thường hay chọn cơ quan giải quyết tranh chấp là cơ quan Tòa án nhân dân có thẩm quyền vì các doanh nghiệp chưa có thói quen sử dụng trọng tài khi giải quyết tranh chấp hợp đồng, họ cho rằng quyết định của Tòa án có giá trị pháp lý cao hơn quyết định của trọng tài; họ chưa tin lắm về hiệu lực thi hành các quyết định trọng tài và do họ chưa nhận biết được tính ưu việt hơn của phương thức giải quyết tranh chấp trọng tài so với phương thức giải quyết tranh chấp bằng Tòa án.

Ngược lại các doanh nghiệp nước ngoài khi ký kết hợp đồng mua bán hay cung cấp dịch vụ với các doanh nghiệp trong nước thì thường lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài nhiều hơn hình thức giải quyết tranh chấp bằng Tòa án vì họ đã nhận thức đầy đủ các ưu thế của Trọng tài : giải quyết tranh chấp nhanh về hiệu lực chung thẩm của quyết định trọng tài; được quyền lựa chọn trọng tài viên có chuyên môn giải quyết vụ tranh chấp; phương thức giải quyết tranh chấp không công khai nên bí mật tranh chấp được giữ kín thông tin tranh chấp rất hạn chế bị đưa lên các phương tiện thông tin đại chúng. . . nhưng họ lại lựa chọn trọng tài nước ngoài nhiều hơn là trọng tài Việt Nam,chỉ một số ít mới lựa chọn sử dụng Tòa án khi giải quyết tranh chấp.

1.2-Sự tác động khách quan khác làm mất đi cơ hội giải quyết tranh chấp các hợp đồng thương mại bằng trọng tài.

a-Không có sự bình đẳng khi các doanh nghiệp đàm phán ký kết hợp đồng thương mại

Sự lợi thế của một bên trong hợp đồng là điều kiện để bên lợi thế lấn lướt bên kia khi buộc đối tác ký kết các hợp đồng thương mại theo mẫu hợp đồng của mình soạn thảo sẳn và điều khoản giải quyết tranh chấp thì tùy theo hai bên của hợp đồng sẽ có sự lựa chọn khác nhau : Nếu hai bên đều là doanh nghiệp Việt Nam thì bên lợi thế chọn Tòa án trên địa bàn mình đóng trụ sở làm cơ quan giải quyết tranh chấp hoặc khi một bên là nước ngoài một bên là Việt Nam thì bên Việt Nam luôn bị bên nước ngoài ép giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại bằng một tổ chức trọng tài nước ngoài, luật áp dụng giải quyết tranh chấp là luật nước ngoài bởi lẻ nếu không theo sự sắp đặt ý chí của bên lợi thế trong hợp đồng thì bên yếu thế trong hợp đồng sẽ không bán được hàng hóa cần bán hoặc mua được hàng hóa cần mua với giá rẻ.Từ sự không bình đẳng trong đàm phán ký kết hợp đồng nêu trên đã làm cho trọng tài Việt Nam mất đi cơ hội được lựa chọn để giải quyết tranh chấp.

b-Sự nhận thức không đầy đủ về cách thức giao kết điều khoản trọng tài dẫn đến điều khoản trọng tài bị vô hiệu

Do không nắm được quy định của pháp luật, điều khoản giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là thẩm quyền lựa chọn có điều kiện là phải lựa chọn đúng tên tổ chức trọng tài giải quyết tranh chấp còn thẩm quyền của Tòa án là thẩm quyền đương nhiên và doanh nghiệp cũng không biết rằng kết quả giải quyết của trọng tài là chung thẩm, không thể yêu cầu Tòa án giải quyết tiếp tục khi trọng tài đã giải quyết xong nên khi các doanh nghiệp giao kết điều khoản trọng tài như sau :

(*)Khi có tranh chấp hợp đồng xảy ra hai bên thống nhất chuyển vụ việc cho Trọng tài Việt Nam giải quyết hay

(**) nếu không đồng ý với phán quyết của trọng tài thì bên thua có thể nhờ Tòa án giải quyế tiếp tục ”hoặc

(***)Khi có tranh chấp hai bên thống nhất lựa chọn trọng tài Việt Nam giải quyết lần đầu và trọng tài Singapore giải quyết cuối cùng”

Ba điều khoản trên đều là những điều khoản trọng tài vô hiệu làm mất thẩm quyền giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại bằng trọng tài.

2)-Nguyên nhân từ phía các tổ chức trọng tài thương mại .

Song song với nguyên nhân hạn chế từ phía các doanh nghiệp nguyên nhân hạn chế từ phía các tổ chức trọng tài thương mại cũng rất quan trọng làm cho các doanh nghiệp ngày càng nhạt nhẻo hơn với phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, nó được thể hiện khá rõ nét về sự yếu kém của các tổ chức trọng tài trong điều hành hoạt động giải quyết tranh chấp và sự chênh lệch về kiến thức chuyên môn và kỷ năng tố tụng trọng tài của một số trọng tài viên.

2.1-Cơ cấu tổ chức và hoạt động của các trung tâm trọng tài.

So sánh với nhiều nước trên thế giới như Hoa Kỳ, Trung Quốc, … hệ thống tổ chức các cơ quan trọng tài trên toàn quốc của nước ta còn quá thưa thớt, cho đến thời điểm hiện nay trên cả nước chỉ mới tổ chức được 8 trung tâm trọng tài với tổng số trọng tài viên chưa đến 150 trọng tài viên. Đây là một hạn chế rất lớn làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của phương thức trọng tài. Với xu hướng hội nhập, toàn cầu hoá hiện nay, các tranh chấp thương mại được dự đoán sẽ gia tăng về số lượng, phức tạp về mức độ, nội dung tranh chấp và phạm vi tranh chấp không chỉ giới hạn trong phạm vi quốc gia mà còn mở rộng trên phạm vi quốc tế. Chính những nhược điểm này làm cho các doanh nghiệp còn e dè và chưa mạnh dạn lựa chọn trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp cho mình.

Hoạt động của các trung tâm trọng tài tự chủ về tài chính, lấy thu bù chi, nguồn thu của các trung tâm trọng tài chủ yếu thu từ phí trọng tài. Trong khi đó, các trung tâm trọng tài không thụ lý được nhiều vụ tranh chấp cho nên nguồn thu không nhiều hoặc không có làm hạn chế khả năng đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, công tác tuyên truyền của các trung tâm trọng tài. Bên cạnh đó, một số trung tâm trọng tài không có trụ sở ổn định, các trọng tài viên không được tập huấn, đào tạo thêm kỹ năng nghiệp vụ tố tụng trọng tài, …

Kết quả nghiên cứu và khảo sát về sự cần thiết của việc sử dụng phương thức trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại ở Việt Nam do Bộ Tư pháp tiến hành gần đây cho thấy, có đến 75% ý kiến cho rằng cần thiết phải thành lập các trung tâm trọng tài. Tuy nhiên, kết quả khảo sát cũng cho thấy có 21% trung tâm trọng tài chưa có trụ sở, 56% đã có trụ sở nhưng chưa đáp ứng yêu cầu, chỉ có 23% đã có và đáp ứng yêu cầu.Về hệ thống lưu trữ hồ sơ vụ tranh chấp theo thống kê chỉ có 8% trung tâm trọng tài có tổ chức hệ thống lưu trữ và đáp ứng được yêu cầu, 69% trung tâm đã có hệ thống lưu trữ nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu và 23% hoàn toàn chưa có hệ thống lưu trữ hồ sơ vụ án.

2.2-Cách giải quyết bất cập của một số Trung tâm Trọng tài.

Kỷ năng tiếp nhận hồ sơ vụ kiện trọng tài của Ban Thư ký của các Trung tâm Trọng tài cũng có vấn đề khi tiếp nhận hồ sơ : cách xác định thẩm quyền của người ký đơn khởi kiện trọng tài; nội dung giấy ủy quyền của người có thẩm quyền cho người tham gia tố tụng trọng tài; tính hợp lệ các chứng thư liên quan đến vụ kiện khi các bên cung cấp trong hồ sơ vụ kiện trọng tài chưa hợp lệ theo quy định của Pháp lệnh Trọng tài và quy tắc tố tụng trọng tài còn khá nhiều bất cập gây lúng túng cho các Hội đồng Trọng tài khi nhận hồ sơ của Ban Thư ký Trung tâm Trọng tài chuyển giao.

Sự bất cập còn thể hiện ở việc tiếp nhận vụ kiện xử lý một thời gian sau đó làm văn bản chuyển sang cho Tòa giải quyết vì không có thẩm quyền, việc đã xảy ra tại một Trung tâm Trọng tài khi thụ lý một vụ kiện Trọng tài một bên là một doanh nghiệp xây dựng, một bên là chủ nhà thuê doanh nghiệp đó xây dựng công trình nhà ở, ngay từ đầu Trung tâm Trọng tài đó đã biết chủ thể hai bên không thỏa mãn thẩm quyền trọng tài nhưng Trung tâm Trọng tài đó vẫn nhận để thu phí trọng tài và hòa giải, nhiều lần mời qua lại sau đó làm văn bản chuyển vụ kiện đó cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết, sau đó vụ kiện được chuyển sang Tòa án giải quyết tiếp tục, cách tiếp nhận giải quyết như thế của Trung tâm Trọng tài đã làm cho các doanh nghiệp ngày càng thờ ơ đối với phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng bằng trọng tài.

2.3-Sự chênh lệch về kiến thức chuyên môn và kỷ năng tố tụng trọng tài của một số trọng tài viên.

Sự chênh lệch này làm bộc lộ tính không chuyên nghiệp của các trọng tài viên. Bên cạnh những trọng tài viên có chuyên môn nghiệp vụ pháp lý thì còn có những trọng tài viên chỉ giỏi về chuyên môn nhưng thiếu kiến thức pháp luật về trọng tài và kỹ năng thao tác trong tố tụng trọng tài.Theo khảo sát mới đây cho thấy có đến 72,6% ý kiến cho rằng các trọng tài viên hiện nay thiếu kỹ năng giải quyết tranh chấp, 65% cho rằng thiếu số lượng trọng tài viên, 51,1% cho rằng trọng tài viên thiếu kinh nghiệm nghề nghiệp, 44,7% cho rằng thiếu trình độ chuyên môn và đặc biệt có đến 44,3% cho rằng các trọng tài viên hiện nay thiếu kiến thức pháp luật.Chúng ta đều biết, giải quyết tranh chấp là một hoạt động trí tuệ tương đối phức tạp.Do vậy, sự chênh lệch về khả năng giải quyết tranh chấp và cách giải quyết bất cập của một số trọng tài viên dễ dẫn đến tình trạng các trọng tài viên ra những phán quyết không đảm bảo những yêu cầu pháp lý, không chính xác hoặc không thể thực hiện được.

2.4-Khả năng viết phán quyết của các trọng tài viên còn yếu và thiếu chặt chẽ

Khi khảo sát một số quyết định trọng tài cho thấy một số trọng tài viên viết quyết định trọng tài còn thiếu chặt chẽ; từ lập luận nhận định về thẩm quyền, về thỏa thuận trọng tài, về hành vi vi phạm của các bên,lý luận chấp nhận hoặc bác các yêu cầu của các bên chưa đảm bảo tính lý luận và pháp lý, dẫn đến ra các phán quyết tuyên xử không chính xác; không rỏ ràng, không chặt chẻ, không chuyên nghiệp và không đủ sức thuyết phục các bên.Cho đến khi quyết định trọng tài có hiệu lực thi hành thì cơ quan thi hành án cũng không thể thi hành được trong thực tế.

3)-Nguyên nhân từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan nhà nước khác

3.1-Cơ quan Tòa án nhân dân :

Đây là nguyên nhân làm cản trở phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài phát triển, thay vì một số Tòa án nhận thức trọng tài là một phương thức hỗ trợ đắc lực cho Tòa án giảm tải giải quyết các tranh chấp bằng thương mại, ngược lại có Tòa án lại giành cả việc xét xử của trọng tài mà vụ tranh chấp giữa công ty Trường Sanh với Công ty Nhã Quán là một điễn hình gần đây nhất của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương thụ lý xét xử xét xử tranh chấp khi hợp đồng tranh chấp đó thuộc thẩm quyền của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC).

3.2-Cơ quan Thi hành án :

Pháp lệnh trọng tài thương mại và pháp lệnh thi hành án dân sự đã quy định rõ quyết định trọng tài sẽ do cơ quan thi hành án thi hành nếu bên bị thi hành không tự nguyện thực hiện nhưng trên thực tế do bản án phải thi hành của Tòa án quá nhiều và quy định cơ quan thi hành án phải thi hành các quyết định trọng tài chưa thẩm thấu vào cơ quan thi hành án nên khi bên được thi hành làm đơn yêu cầu thi hành quyết định trọng tài thì cơ quan thi hành án còn lúng túng và còn so đo phải thi hành án các bản án của Tòa án trước các quyết định của trọng tài.

Như vậy, cách hiểu và nhìn nhận các quy định pháp luật của các cơ quan tư pháp trong hoạt động trọng tài cũng là một khía cạnh quan trọng làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của phương thức trọng tài. Giá như, các cơ quan tiến hành tố tụng có cách hiểu đúng đắn các quy định của luật thì chắc chắn rằng các cơ quan này sẽ có sự hỗ trợ tích cực đối với hoạt động của trọng tài và vì thế mà sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của phương thức trọng tài.

Từ những nội dung phân tích trên, chúng tôi xin đề xuất một số kiến nghị nhằm có thể đưa phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đi vào thực tiễn tranh chấp của các doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập hiện nay và để thực hiện tốt các cam kết khi nước ta gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO).

Thứ nhất : Đối với các doanh nghiệp.

Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu, các doanh nghiệp nước ngoài đều sử dụng phương thức trọng tài cho nên doanh nghiệp Việt Nam không thể nằm ngoài quy luật chung đó. Khi hội nhập kinh tế quốc tế thì các tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài ngày càng nhiều và phức tạp, doanh nghiệp Việt Nam cần phải tiếp cận với phương thức trọng tài như là điều khoản cần có trong luật chơi trong nước và quốc tế.

Thiết nghĩ, việc các doanh nghiệp Việt Nam cần nhận thức lại về phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại bằng trọng tài và cần nhận thức một cách đầy đủ những ưu thế khi lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, thời gian giải quyết tranh chấp nhanh, ít tốn kém chi phí, hiệu lực quyết định trọng tài là chung thẩm rút ngắn được các trình tự giải quyết hai cấp, giữ được bí mật kinh doanh, được lựa chọn người có chuyên môn tương ứng với vụ tranh chấp để giải quyết tranh chấp, các thủ tục lấy lời khai của các bên trong giải quyết tranh chấp trọng tài hết sức văn minh bằng văn bản, quyết định trọng tài được cơ quan thi hành án thi hành theo Luật thi hành án dân sự. . . . Song song đó trong quá trình hội nhập, các doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt với nhiều vụ tranh chấp thương mại, đầu tư, nội dung tranh chấp ngày càng phức tạp mà các nước trên thế giới đều chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là hiệu quả và hợp lý nhất.

Thứ hai : Đối với các trung tâm trọng tài.

Các trung tâm trọng tài cần chủ động, tích cực hơn trong việc mở rộng danh sách trọng tài viên, đặc biệt chú trọng tới các chuyên gia có uy tín và trình độ chuyên môn cao; bồi dưỡng nâng cao trình độ của các trọng tài viên hiện có nhằm nâng cao chất lượng giải quyết tranh chấp của các trung tâm trọng tài.

Các trung tâm trọng tài cần tăng cường hợp tác với các tổ chức trọng tài trong và ngoài nước nhằm học hỏi kinh nghiệm cũng như nhận được những sự hỗ trợ cần thiết; thường xuyên tổ chức việc tuyên truyền, giới thiệu về tổ chức và hoạt động của mình cho các doanh nghiệp… Nếu làm được như vậy, chắc chắn hoạt động trọng tài trong thời gian tới sẽ có những chuyển biến tích cực, những kết quả đáng kể hơn trong thời gian tới.

Các trung tâm trọng tài nên có các chương trình xúc tiến, thậm chí tự tiếp thị, và chủ động học hỏi cách làm của trọng tài các nước, thay vì chờ đợi một cách thụ động.Chú trọng đến việc đào tạo chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao tay nghề cho đội ngũ trọng tài viên nhằm nâng cao chất lượng xét xử, đảm bảo phán quyết của mình đúng pháp luật.Phối hợp với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác như cơ quan Tòa án, cơ quan thi hành nhằm đảm bảo phán quyết của mình được thi hành đúng quy định của pháp luật.

Thứ ba : Đối với các cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan thi hành án

Bên cạnh việc hoàn thiện một số quy định pháp luật về trọng tài, nâng Pháp lệnh trọng tài thành Luật Trọng tài thương mại thiết nghĩ cần có những quy định cụ thể về quá trình hỗ trợ của các cơ quan tư pháp đối với hoạt động của trọng tài.Để có thể làm được việc đó theo chúng tôi cần thiết phải xây dựng một văn bản quy định việc hướng dẫn áp dụng các quy định của pháp luật trọng tài và Bộ luật tố tụng dân sự (có thể là một thông tư liên tịch) trong đó cần quy định cụ thể việc hỗ trợ của cơ quan Tòa án và cơ quan thi hành án đối với hoạt động của trọng tài.Chỉ có thế, mới làm cho các cơ quan tiến hành tố tụng và thi hành án có cách hiểu đúng và toàn diện về các quy định của pháp luật trọng tài trong việc hỗ trợ hoạt động cho trọng tài.Từ đó, làm cho hoạt động hỗ trợ của các cơ quan tiến hành tố tụng đối với quá trình tố tụng trọng tài mang tính tích cực và đạt hiệu quả cao hơn.

Việc nhà nước cho phép tổ chức thí điểm hoạt động “Thừa phát lại” tại Thành phố Hồ Chí Minh là tín hiệu tốt góp phần đẩy mạnh hoạt động thi hành án và tạo điều kiện cho các bên thực hiện công việc thu thập chứng cứ để tự bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm trước các cơ quan tài phán tranh chấp sẽ góp phần không nhỏ cho hoạt động trọng tài phát triển trong việc giải quyết tranh chấp và thi hành quyết định trọng tài.

Thứ tư : Cần học hỏi kinh nghiệm của một số nước quy định pháp luật về trọng tài

Về mặt pháp luật trọng tài: Hầu như pháp luật các nước đều quy định rất rộng thẩm quyền của trọng tài trong việc giải quyết tranh chấp; cho phép hội đồng trọng tài được quyền áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời; quy định hợp lý, cụ thể địa điểm tiến hành giải quyết tranh chấp; thành lập hiệp hội trọng tài nhằm giám sát hoạt động của trọng tài…Việt Nam đang từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới, đang từng bước thử thách vào sân chơi quốc tế. Nên chăng, chúng ta cần tiếp thu và học kinh nghiệm về pháp luật trọng tài của các nước phát triển nhằm hoàn thiện hơn nữa khung pháp lý của chúng ta và từ đó tạo hành lang pháp lý thật sự vững chắc cho hoạt động của trọng tài nói riêng và các lĩnh vực khác.

Về cơ chế hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động của trọng tài: trọng tài các nước trên thế giới hoạt động rất hiệu quả chính là nhờ cơ chế hỗ trợ tích cực của tòa án trong quá trình tham gia tố tụng trọng tài.Ở Mỹ, tòa án hầu như tham gia toàn bộ vào quá trình tố tụng trọng tài từ việc xem xét thỏa thuận trọng tài cho đến lúc Hội đồng trọng tài ra phán quyết…hay ở Trung Quốc, tòa án cũng tham gia rất tích cực, có hiệu quả vào hoạt động của trọng tài…Chính vì thế, mà làm cho hoạt động của trọng tài ở các nước diễn ra nhanh chóng, tích cực, giải quyết nhanh gọn và đáp ứng quyền lợi của các bên.Từ thực tiễn của các nước, thiết nghĩ Việt Nam chúng ta cũng cần có các quy định cụ thể về sự hỗ trợ của tòa án đối với hoạt động của trọng tài.Tòa án cần có sự hỗ trợ tích cực hơn nữa trong quá trình giải quyết tranh chấp của trọng tài, tránh tình trạng chồng chéo thẩm quyền giữa trọng tài và tòa án, tránh cho quá trình giải quyết tranh chấp bị gián đoạn, thiếu linh hoạt và không đạt hiệu quả.

Về sử dụng án lệ trong giải quyết tranh chấp bằng trọng tài : Việc áp dụng án lệ trong giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại nói riêng và tranh chấp thương mại nói chung được sử dụng rộng rãi trên nhiều quốc gia. Trong hoạt động xét xử của Tòa án Việt Nam, việc áp dụng án lệ đã được từng bước thực hiện một cách không chính thức trong việc ban hành các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân tối cao đối với Tòa án các cấp dưới hình thức báo cáo tổng kết hoạt động hàng năm; các công văn khoa học xét xử, việc ban hành rộng rãi các quyết định Giám đốc thẩm đối với các bản án hình sự, dân sự, thương mại,lao động và hành chính. Chúng tôi cho rằng đó là những tín hiệu tốt ban đầu để các nhà lập pháp Việt Nam có thể công nhận án lệ là một nguồn chính thức của hệ thống pháp luật Việt Nam được áp dụng trong hoạt động giải quyết tranh chấp.

Việc tìm hiểu, chọn lọc, tiếp thu kinh nghiệm của các nước bổ sung cho pháp luật trọng tài Việt Nam là hết sức cần thiết trong thời điểm hiện nay khi nước ta đang hội nhập sâu vào nền kinh tế khu vực và thế giới.Một vấn đề được đặt ra là ta sẽ tiếp thu nội dung gì ? cái gì thuận lợi, phù hợp cho phát triển; không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật nước ta theo chúng tôi cần tiếp thu và tiếp thu một cách nhanh chóng để làm giảm bớt sự tụt hậu, sự chênh lệch về kỹ thuật giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại bằng trọng tài giữa trọng tài viên trong nước và nước ngoài, song song đó cũng sẽ góp phần ngày càng hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật Việt Nam.

================================================

(4) Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp số 48/2010/QH12 được Quốc Hội khóa XII kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 17 – 6 – 2010. (Luật thuế SDĐ PNN).

Xem văn bản tại đây.

Luật thuế SDĐ PNN có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2012. Pháp lệnh Thuế nhà đất năm 1992và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thuế nhà, đất năm 1994 sẽ hết hiệu lực thi hành khi Luật thuế SDĐ PNN có hiệu lực.

Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp được trình Quốc hội tại kỳ họp lần này để thay cho dự án Luật Thuế nhà đất đã được xem xét từ kỳ họp trước. Việc sửa tên gọi xuất phát từ việc chưa đưa nhà ở vào diện chịu thuế, sau khi tiếp thu ý kiến của nhiều vị đại biểu Quốc hội.

Theo đó, đối tượng chịu thuế là đất phi nông nghiệp, bao gồm:

(i) đất ở tại nông thôn và đất ở tại đô thị;

(ii) đất sản xuất, kinh doanh, phi nông nghiệp, bao gồm:  đất xây dựng khu công nghiệp; đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh; đất khai thác, chế biến khoáng sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm.

Đối tượng không thuộc diện chịu thuế:

(i) Đất sử dụng vào mục đích công cộng như: đất giao thông, thuỷ lợi; đất xây dựng công trình văn hoá, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao phục vụ lợi ích công cộng; đất có di tích lịch sử – văn hoá, danh lam thắng cảnh…

(ii) Đất do cơ sở tôn giáo sử dụng;

(iii) Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa;

(iv) Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng;

(v) Đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ;

(vi) Đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng công trình sự nghiệp, đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh;

Thuế suất đối với đất ở bao gồm cả trường hợp sử dụng để kinh doanh:

Bậc thuế Diện tích đất tính thuế (m2) Thuế suất (%)
1 Diện tích trong hạn mức 0,03
2 Phần diện tích vượt không quá 3 lần hạn mức 0,07
3 Phần diện tích vượt trên 3 lần hạn mức 0,15

Đất lấn, chiếm áp dụng mức thuế suất 0,2% và không áp dụng hạn mức. Việc nộp thuế không phải là căn cứ để công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của người nộp thuế đối với diện tích đất lấn, chiếm./.

Advertisements
%d bloggers like this: