Cập nhật VBPL kì 3 – tháng 5/2010

CẬP NHẬT MỘT SỐ VBPL KÌ 3 – THÁNG 5/2010

1. Nghị định số 45/2010/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 21-4-2010 về tổ chức, hoạt động và quản lý hội.

2. Nghị định 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính Phủ quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.

=========================================================

TÓM TẮT NỘI DUNG

(1) Nghị định số 45/2010/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 21-4-2010 về tổ chức, hoạt động và quản lý hội. (Nghị định 45)

xem văn bản tại đây.

Nghị định 45 thay thế Nghị định 88/2003/NĐ-CP ngày 30 – 7 – 2003 quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội.

Nghị định 45 không áp dụng đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và các tổ chức giáo hội.

Nghị định này có hiệu lực thi hành ngày kể từ ngày 01 – 7 – 2010.

Hội được quy định trong Nghị định này được hiểu là tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam cùng ngành nghề, cùng sở thích, cùng giới, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, hoạt động thường xuyên, không vụ lợi nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội, hội viên, của cộng đồng; hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp phần vào việc phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, được tổ chức và hoạt động theo Nghị định này và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan.

Hội có tư cách pháp nhân, trụ sở, con dấu, tài khoản và có thể có biểu tượng riêng. Trụ sở chính của hội đặt tại Việt Nam.

Số lượng công dân, tổ chức Việt Nam đăng ký tham gia thành lập hội: Muốn thành lập hội có phạm vi hoạt động cả nước hoặc liên tỉnh phải có ít nhất một trăm (100) công dân, tổ chức ở nhiều tỉnh có đơn đăng ký tham gia; hội có phạm vi hoạt động trong tỉnh phải có ít nhất năm mươi (50) công dân, tổ chức trong tỉnh có đơn đăng ký tham gia;  hội có phạm vi hoạt động trong huyện phải có ít nhất hai mươi (20) công dân, tổ chức trong huyện có đơn đăng ký tham gia; hội có phạm vi hoạt động trong xã phải có ít nhất mười (10) công dân, tổ chức trong huyện có đơn đăng ký tham gia;

Trường hợp, hiệp hội của các tổ chức kinh tế có hội viên là đại diện các tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân của Việt Nam, có phạm vi hoạt động cả nước phải có ít nhất mười một (11) đại diện pháp nhân ở nhiều tỉnh đăng ký tham gia; Trường hợp, hiệp hội có phạm vi hoạt động trong tỉnh phải có ít nhất năm (5) đại diện pháp nhân trong tỉnh cùng ngành nghề hoặc cùng lĩnh vực hoạt động đăng ký tham gia.

Ban vận động thành lập hội: Muốn thành lập hội, những người sáng lập phải thành lập ban vận động thành lập hội. Ban vận động thành lập hội được cơ quan quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực chính mà hội dự kiến hoạt động công nhận. Điểm mới của Nghị định 45 là đã quy định cụ thể số lượng thành viên trong ban vận động thành lập hội, cũng như quy định cụ thể cơ quan có thẩm quyền, thời hạn xem xét, công nhận ban vận động thành lập hội. Đối với Hiệp hội của các tổ chức kinh tế có phạm vi hoạt động cả nước có ít nhất năm (5) thành viên đại diện cho các tổ chức kinh tế; đối với hiệp hội có phạm vi hoạt động trong tỉnh có ít nhất ba (3) thành viên đại diện cho các tổ chức kinh tế trong tỉnh.

Thẩm quyền cho phép thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, đổi tên và phê duyệt điều lệ hội: Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cho phép thành lập; chia, tách; sáp nhập; hợp nhất; giải thể; đổi tên và phê duyệt điều lệ đối với hội có phạm vi hoạt động trong tỉnh. Và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ tình hình thực tế ở địa phương, ủy quyền để Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện cho phép thành lập; chia, tách; sáp nhập; hợp nhất; giải thể; đổi tên và phê duyệt điều lệ đối với hội có phạm vi hoạt động trong xã.

Cơ cấu tổ chức của hội theo Nghị định 45 qui định bao gồm: Đại hội, Ban lãnh đạo, Ban kiểm tra và các tổ chức khác do điều lệ hội quy định.

Quyền và nghĩa vụ của hội: Ngoài các quyền như tuyên truyền mục đích của hội; phổ biến, huấn luyện kiến thức cho hội viên; tham gia ý kiến vào các văn bản quy phạm pháp luật, Nghị định 45 còn bổ sung quyền tham gia chương trình, dự án, đề tài nghiên cứu và giám định xã hội theo đề nghị của cơ quan nhà nước; cung cấp dịch vụ công về các vấn đề thuộc lĩnh vực hoạt động của hội, tổ chức dạy nghề, truyền nghề theo quy định của pháp luật; được tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức các hoạt động dịch vụ khác theo quy định của pháp luật và được cấp chứng chỉ hành nghề khi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, Nghị định 45 cũng quy định quyền thành lập pháp nhân thuộc hội theo quy định của pháp luật. Các nghĩa vụ của hội về cơ bản vẫn như quy định cũ; tuy nhiên có bổ sung thêm một nghĩa vụ là xây dựng và ban hành quy tắc đạo đức trong hoạt động của hội.

Hội có tính chất đặc thù: là nội dung bổ sung mới theo Nghị định 45. Tính chất đặc thù của hội do Thủ tướng Chính phủ quy định. Các hội này có quyền tham gia với các bộ, cơ quan ngang bộ xây dựng các cơ chế, chính sách liên quan trực tiếp đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn về lĩnh vực hoạt động của hội; tham gia thực hiện một số hoạt động quản lý nhà nước, dịch vụ công thuộc lĩnh vực hoạt động của hội… và được cấp kinh phí hoạt động theo số biên chế được giao; bảo đảm kinh phí để thực hiện nhiệm vụ nhà nước giao và hỗ trợ cơ sở vật chất và phương tiện hoạt động.

==============================================================

(2) Nghị định 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính Phủ quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. (Nghị định 51).

xem văn bản tại đây.

Phạm vi điều chỉnh: Nghị định 51 quy định về việc in, phát hành, sử dụng hóa đơn; xử phạt vi phạm hành chính về hóa đơn; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý thuế các cấp và các cơ quan, tổ chức có liên quan đến việc in, phát hành, sử dụng hóa đơn; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc in, phát hành, sử dụng hóa đơn.

Đối tượng áp dụng: Theo Nghị định 51 bao gồm:

– Tổ chức, cá nhân Việt Nam bán hàng hóa, dịch vụ tại Việt Nam hoặc bán ra nước ngoài;

– Tổ chức nhận in hóa đơn.

– Tổ chức, cá nhân mua hàng hóa, dịch vụ

– Cơ quan quản lý thuế các cấp và các tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc in, phát hành, sử dụng hóa đơn.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2011 và thay thế Nghị định số 89/2002/NĐ-CP ngày 07 tháng 11 năm 2002 của Chính phủ quy định về việc in, phát hành, sử dụng, quản lý hóa đơn.

Theo Nghị định 51, việc tạo hóa đơn là hoạt động làm ra hóa đơn để sử dụng cho mục đích bán hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh; gồm: tự in từ các máy móc, thiết bị tại doanh nghiệp; đặt các doanh nghiệp đủ điều kiện in hóa đơn; khởi tạo hóa đơn điện tử theo Luật Giao dịch điện tử. Theo đó, tổ chức, cá nhân kinh doanh có thể đồng thời cùng lúc sử dụng nhiều hình thức hóa đơn khác nhau, nhà nước khuyến khích hình thức hóa đơn điện tử.

Các loại hóa đơn theo Nghị định 51:

(1) Hóa đơn xuất khẩu là hóa đơn dùng trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ ra nước ngoài, xuất khẩu vào khu phi thuế quan;

(2) Hóa đơn giá trị gia tăng là hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ nội địa dành cho các tổ chức, cá nhân khai thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ;

(3) Hóa đơn bán hàng là hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ nội địa dành cho các tổ chức, cá nhân khai thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp;

các hình thức của hóa đơn theo Nghị định 51:

(1) Hóa đơn tự in là hóa đơn do các tổ chức, cá nhân kinh doanh tự in ra trên các thiết bị tin học, máy tính tiền hoặc các loại máy khác khi bán hàng hóa, dịch vụ;

(2) Hóa đơn điện tử là tập hợp các thông điệp dữ liệu điện tử về bán hàng hóa, dịch vụ, được khởi tạo, lập, gửi, nhận, lưu trữ và quản lý theo quy định tại Luật Giao dịch điện tử và các văn bản hướng dẫn thi hành;

(3) Hóa đơn đặt in là hóa đơn do các tổ chức, cá nhân kinh doanh đặt in theo mẫu để sử dụng cho hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, hoặc do cơ quan thuế đặt in theo mẫu để cấp, bán cho các tổ chức, cá nhân.

Hóa đơn tự in:

Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật trong khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất, khu công nghệ cao; doanh nghiệp có mức vốn điều lệ theo quy định của Bộ Tài chính; các đơn vị sự nghiệp công lập có sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật được tự in hóa đơn kể từ khi có mã số thuế.

Hoặc Tổ chức, cá nhân kinh doanh được tự in hóa đơn để sử dụng cho việc bán hàng hóa, dịch vụ nếu có đủ các điều kiện sau:

(1) Đã được cấp mã số thuế;

(2) Có doanh thu bán hàng hóa, dịch vụ;

(3) Không bị xử phạt về các hành vi vi phạm pháp luật về thuế theo mức do Bộ Tài chính quy định trong 365 (ba trăm sáu mươi lăm) ngày liên tục tính đến ngày thông báo phát hành hóa đơn tự in;

(4) Có hệ thống thiết bị đảm bảo cho việc in và lập hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ;

(5) Là đơn vị kế toán theo quy định của Luật Kế toán và có phần mềm bán hàng hóa, dịch vụ gắn liền với phần mềm kế toán, đảm bảo việc in và lập hóa đơn chỉ được thực hiện khi nghiệp vụ kế toán phát sinh.

Hóa đơn điện tử:

1. Hóa đơn điện tử được khởi tạo, lập, xử lý trên hệ thống máy tính của tổ chức, cá nhân kinh doanh đã được cấp mã số thuế khi bán hàng hóa, dịch vụ và được lưu trữ trên máy tính của các Bên theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.

2. Hóa đơn điện tử được sử dụng theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.

Nghị định 51 qui định đối với việc Bán hàng hóa, dịch vụ có tổng giá thanh toán dưới 200.000 đồng mỗi lần thì không phải lập hóa đơn, trừ trường hợp người mua yêu cầu nhận hóa đơn.

Xử phạt vi phạm hành chính về hóa đơn: Nghị định 51 qui định mức phạt tối thiểu là 1,000,000 đồng và tối đa là 100,000,000 đồng đối với các hành vi vi phạm hành chính về hóa đơn. Theo Nghị định 51, các hành vi vi phạm về tự in hóa đơn và khởi tạo hóa đơn điện tử; về đặt in hóa đơn; in hóa đơn đặt in; về mua hóa đơn; về phát hành hóa đơn; về sử dụng hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ; về sử dụng hóa đơn của người mua.

Advertisements
%d bloggers like this: